TS. Cấn Văn Lực: Áp lực xử lý nợ xấu thời gian tới rất lớn

Kỳ Văn
Theo chuyên gia, nợ xấu là vấn đề liên tục, luôn hiện hữu của ngành ngân hàng, trước ảnh hưởng của dịch Covid-19, nợ xấu đã và đang tăng cao khiến áp lực xử lý nợ xấu thời gian tới là rất lớn. TS. Cấn Văn Lực đề xuất Chính phủ nên đề xuất Quốc hội luật hoá Nghị quyết 42.
ap-luc-1624503017.jpg
Trao đổi tại toạ đàm "Nợ xấu trong đại dịch COVID-19 - Giải pháp hỗ trợ ngành ngân hàng và cộng đồng doanh nghiệp" , do Báo Tiền Phong và Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam tổ chức ngày 23/6, TS. Cấn Văn Lực, chuyên gia kinh tế trưởng của BIDV cho biết, Nghị quyết 42 của Quốc hội đã đem lại những kết quả tích cực trong công tác xử lý nợ xấu của ngành ngân hàng thời gian qua. Trong đó, có thể kể đến 4 kết quả nổi bật:

Thứ nhất, công tác triển khai Nghị quyết 42 đã được thực hiện nghiêm túc, mang lại kết quả tích cực. Theo số liệu được công bố gần đây nhất của NHNN, lũy kế từ thời điểm NQ 42 bắt đầu có hiệu lực (tháng 8/2017) đến hết tháng 4/2021, toàn hệ thống các TCTD đã xử lý được khoảng 530 nghìn tỷ đồng nợ xấu, trong đó có 350 nghìn tỷ đồng theo NQ 42 (chiếm 66% nợ xấu được xử lý), gấp 4 lần so với giá trị nợ xấu được xử lý trong giai đoạn trước đó từ 2012-2017.

Thứ hai, đã góp phần hoàn thiện thể chế, khung pháp lý cho công tác xử lý nợ xấu. Sau khi NQ 42 đi vào triển khai, nhiều văn bản hướng dẫn thực hiện của Chính Phủ, NHNN, Bộ Tư pháp, Tòa án Nhân dân tối cao… đã được ban hành đã giúp NQ 42 đi vào thực tiễn, có bước tiến lớn so với trước kia và đã tương đối hoàn thiện, tiệm cận thông lệ quốc tế hơn.

Thứ ba, giúp đẩy nhanh hơn tốc độ xử lý nợ xấu, góp phần quan trọng vào thực hiện thành công Đề án cơ cấu lại các TCTD giai đoạn 2016-2020 theo Quyết định 1058/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Cụ thể, cũng theo số liệu công bố mới nhất của NHNN, xử lý nợ xấu theo Nghị quyết 42 với mức trung bình khoảng 8 nghìn tỷ đồng/tháng (giai đoạn từ 15/8/2017 đến hết tháng 4/2021), gấp hơn 2 lần so với mức 3,63 nghìn tỷ đồng/tháng của giai đoạn 2012-2017 trước khi có Nghị quyết 42. Kết quả là tỷ lệ nợ xấu gộp đã liên tục giảm qua các năm, từ mức 10,08% năm 2016 xuống còn 4,64% vào tháng 5/2020 và khoảng 4,5% vào cuối năm 2020. Tỷ lệ nợ xấu nội bảng giảm từ mức 2,46% cuối năm 2016 xuống còn 1,63% cuối năm 2019, nhưng đã tăng lên mức trên 2% cuối năm 2020 và sẽ còn tăng trong năm 2021 (chủ yếu do tác động tiêu cực của dịch Covid-19).

Thứ tư, thay đổi nhận thức của người dân, doanh nghiệp cũng như nhận thức về trách nhiệm của cơ quan liên quan như công an, tòa án, địa phương…v.v. đối với công tác xử lý nợ xấu. Những văn bản hướng dẫn thực thi Nghị quyết 42 dần được ban hành, phần nào thể hiện được nỗ lực vào cuộc của các cấp, ngành và địa phương. Đặc biệt, nhận thức, thiện chí của bên vay trong việc giải quyết nợ xấu đã được tăng lên, góp phần đáng kể vào kết quả xử lý nợ xấu thời gian qua. Theo NHNN, kể từ khi triển khai Nghị quyết 42 đến hết tháng 4/2021, quy mô nợ xấu theo Nghị quyết 42 được khách hàng trả nợ là 150 nghìn tỷ đồng (chiếm 44% tổng nợ xấu theo NQ 42 đã xử lý), cao gần gấp đôi mức trung bình giai đoạn 2012-2017 là 22,8%. Điều này minh chứng rõ nét về ý thức trả nợ của khách hàng đã được nâng lên.

TS. Cấn Văn Lực: Áp lực xử lý nợ xấu thời gian tới rất lớn - Ảnh 1.

TS. Cấn Văn Lực (ảnh: Tiền Phong)

Bên cạnh những kết quả tích cực đạt được thì công cuộc xử lý nợ xấu, theo TS. Cấn Văn Lực, còn có 4 vướng mắc chính.

Một là, sự vào cuộc, phối kết hợp của các cơ quan chức năng, địa phương còn chưa kịp thời, chưa đồng bộ và nhất quán, dẫn đến quá trình thực thi Nghị quyết gặp không ít khó khăn. Thí dụ, sau gần một năm NQ 42 có hiệu lực, đến ngày 15/5/2018 Tòa án Nhân dân tối cao mới ban hành Nghị quyết số 03/2018/NQ-HĐTP (có hiệu lực từ ngày 1/7/2018) hướng dẫn áp dụng các quy định của NQ 42; trong khi đó, quy định về điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn chưa phù hợp với tính chất đặc thù của giao dịch cho vay, nhận thế chấp tài sản của TCTD. Chỉ cần bên vay không thống nhất với TCTD về dư nợ hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt hay từ chối thực hiện nghĩa vụ bảo đảm… thì Tòa án sẽ không áp dụng thủ tục rút gọn. Kết quả đến nay số lượng hồ sơ được áp dụng theo thủ tục rút gọn rất hạn chế. Tại mỗi vụ thu giữ tài sản đảm bảo (TSĐB), Công An và chính quyền địa phương vào cuộc không quyết liệt, dẫn đến hiện tượng chây ỳ, thậm chí hăm dọa cán bộ tín dụng đã xảy ra. Tại một số địa phương do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan khác nhau, hoạt động thi hành án ngân hàng còn chưa thật sự hiệu quả, nhiều vụ việc kéo dài… phát sinh nhiều chi phí cho đơn vị xử lý nợ.

Hai là, còn nhiều vướng mắc trong xử lý tài sản đảm bảo. Đó là, (i) Quyền thu giữ tài sản bảo đảm của TCTD là một trong những nội dung trọng tâm tại NQ 42 nhưng việc triển khai trên thực tế còn nhiều vướng mắc do NQ 42 không quy định chế tài xử lý hoặc cơ chế, cách thức tiến hành cưỡng chế trong trường hợp bên bảo đảm, bên giữ tài sản không hợp tác; (ii) Việc mua, bán, sang tên TSBĐ là quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất, tài sản gắn liền với đất hình thành trong tương lai có nhiều vướng mắc. Theo đó, người mua nợ không thực hiện được thủ tục đăng ký thay đổi bên nhận thế chấp tại cơ quan chức năng theo quy định tại NQ 42 do không phải là TCTD (như cách hiểu cứng nhắc Luật Đất đai 2013 của cơ quan chức năng. Tương tự, trong quá trình xử lý nợ xấu, hầu hết các chủ tài sản đều chống đối, không hợp tác. Do đó, TCTD hay tổ chức mua bán nợ đề xuất sử dụng Biên bản thu giữ thay cho văn bản về việc bàn giao tài sản thế chấp hay khoản nợ nhưng không được Văn phòng đăng ký đất đai chấp thuận. Từ đó dẫn đến các bên liên quan không thực hiện được việc chuyển quyền sở hữu, sử dụng tài sản cho bên mua tài sản. về việc thực hiện thứ tự ưu tiên thanh toán khi xử lý TSBĐ và việc nộp thuế khi chuyển nhượng TSBĐ (Điều 12, Nghị quyết số 42). Việc chuyển nhượng các dự án chưa có Giấy chứng nhận vẫn gặp phải khó khăn khi tiến hành các thủ tục chuyển nhượng dự án tại các cơ quan có thẩm quyền.

(iii) Vướng mắc về thực hiện thứ tự ưu tiên thanh toán khi xử lý TSBĐ và việc nộp thuế chuyển nhượng TSBĐ. Theo yêu cầu, các TCTD phải nộp các khoản thuế trước khi được ưu tiên thanh toán đã làm giảm số tiền thu hồi nợ của TCTD, nhiều trường hợp số tiền bán TSBĐ không đủ thu hồi nợ cho TCTD nhưng vẫn phải nộp thuế, gây khó khăn cho cả bên bảo đảm và bên nhận bảo đảm, ảnh hưởng lớn đến quyền lợi chủ nợ có bảo đảm của TCTD…v.v. (iv) Thiếu thông tin về hiện trạng TSĐB do Tòa án, cơ quan thi hành án dân sự không có hệ thống dữ liệu cho phép các TCTD trích xuất, tra cứu thông tin về hiện trạng tài sản có liên quan đến vụ việc đang được thụ lý giải quyết, nên không biết tài sản có tranh chấp/vướng mắc gì hay không, trong khi chưa có hướng dẫn áp dụng cụ thể, dẫn đến cách hiểu về tài sản tranh chấp giữa các cơ quan tiến hành tố tụng tại nhiều nơi, nhiều cấp khác nhau, gây khó khăn khi áp dụng các biện pháp xử lý TSĐB theo Nghị quyết số 42. (v) Khó khăn, vướng mắc liên quan đến việc hoàn trả TSBĐ là vật chứng trong vụ án hình sự.

Ba là, khâu định giá, thẩm định giá khoản nợ và TSĐB khó khăn. Còn thiếu hướng dẫn về cơ sở xác định giá trị khoản nợ và TSĐB trong khi khoản nợ xấu và TSĐB đi kèm có khác biệt so với nợ thông thường. Việc giới hạn tổ chức thẩm định giá phải nằm trên địa bàn tỉnh, thành phố đã làm hạn chế cơ hội lựa chọn được tổ chức định giá có đủ uy tín, năng lực để thực hiện định giá tài sản. Nhiều địa phương còn thiếu tổ chức thẩm định giá hoặc năng lực của tổ chức thẩm định giá còn yếu, dẫn đến chất lượng thẩm định giá chưa cao; thậm chí có khả năng xảy ra tình trạng thiếu minh bạch, câu kết giữa các bên liên quan.

Bốn là, Việt Nam vẫn còn thiếu vắng một thị trường mua bán nợ chính thức thực sự, các nghiệp vụ phái sinh cho khoản nợ xấu (nhưng chứng khoán hóa) chưa có, dẫn đến thiếu nhà đầu tư có năng lực, thiếu tính thanh khoản của các khoản nợ; làm giảm tính hấp dẫn, giá trị và nguồn lực để xử lý các khoản nợ này; khiến quá trình mua – bán nợ theo giá thị trường càng khó khăn.

Trên cơ sở những vướng mắc đó, TS. Cấn Văn Lực có 4 kiến nghị để quá trình xử lý nợ xấu và thực hiện Nghị quyết 42 mang lại hiệu quả cao hơn, nhất là trong giai đoạn 2021-2025.

Thứ nhất, Quốc Hội, Chính phủ chỉ đạo các cơ quan liên quan, địa phương khẩn trương tháo gỡ, xử lý dứt điểm những vướng mắc chính nêu trên theo chức năng – nhiệm vụ, nhất là khâu hướng dẫn triển khai đồng bộ, nhất quán và phối kết hợp tổ chức thực hiện quyết liệt, hiệu quả trên tinh thần vì cái chung.

Thứ hai, Chính phủ chỉ đạo đẩy nhanh, thực chất tiến trình cơ cấu lại DNNN, nâng cao năng lực tài chính – quản trị, tạo điều kiện để hệ thống các TCTD xử lý nợ xấu. Các bộ chủ quản chỉ đạo các Tập đoàn, Tổng công ty thực hiện nghĩa vụ trả nợ hay nghĩa vụ bảo lãnh đối với các khoản vay tại các TCTD mà các đơn vị đứng ra bảo lãnh cho các công ty con, công ty thành viên của mình.

Thứ ba, trên cơ sở thực tế áp dụng chính sách tại Nghị quyết 42 và tổng kết, đánh giá việc thực hiện Quyết định số 1058/QĐ-TTg đến hết năm 2020, Chính phủ chỉ đạo sớm hoàn thiện Đề án cơ cấu lại hệ thống các TCTD giai đoạn 2021-2025 nhằm tiếp tục hỗ trợ các TCTD trong việc xử lý hiệu quả nợ xấu, góp phần thực hiện thành công các mục tiêu về cơ cấu lại hệ thống các TCTD và chiến lược phát triển ngành ngân hàng đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 như đã nêu tại Quyết định 986/QĐ-TTg. Theo đó, các TCTD tiếp tục rà soát chính sách, quy trình về tín dụng, tăng cường kiểm soát rủi ro (nhất là trong bối cảnh tác động tiêu cực bởi đại dịch Covid-9) nhằm hạn chế nợ xấu gia tăng trong tương lai.

Cuối cùng, Chính phủ nên xem xét đề xuất Quốc Hội luật hóa NQ 42 trên cơ sở rà soát, hoàn thiện và hệ thống hóa các quy định pháp luật liên quan. Thực tế chứng minh NQ 42 đã mang lại rất nhiều kết quả tích cực cho công tác xử lý nợ xấu. Tuy nhiên, đối tượng tập trung vào các khoản nợ được hình thành trước khi NQ có hiệu lực (ngày 15/8/2017). Trong khi đó, nợ xấu là vấn đề liên tục, luôn hiện hữu của ngành ngân hàng. Hơn nữa, trước ảnh hưởng của dịch Covid-19, nợ xấu đã và đang tăng cao trong khi NQ 42 sẽ hết hiệu lực chỉ trong hơn 1 năm nữa, sẽ khiến áp lực xử lý nợ xấu của hệ thống các TCTD trong thời gian tới là rất lớn. Việc luật hóa xử lý nợ xấu cũng là tăng hiệu lực, hiệu quả của công tác thể chế, một trong ba đột phá chiến lược tiếp tục được Đại hội Đảng XIII lựa chọn, thông qua.